Quy trình chính sách, Hoạch định chính sách và Xây dựng chính sách là những “từ khoá” quan trọng xuất hiện rất nhiều trong các nghiên cứu, thảo luận về chính sách công. Hiện nay thì câu hỏi quy trình chính sách là gì đã đạt được nhiều đồng thuận. Trong khi đó, trong nghiên cứu và thực hành chính sách công ở nước ta, hai thuật ngữ Hoạch định chính sách và Xây dựng chính sách được dùng không thống nhất, tuỳ thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Điều này không hẳn là đúng hay sai, nhưng sẽ làm khó cho những người mới tiếp cận với khoa học chính sách và tìm hiểu về quy trình chính sách ở nước ta. Bài viết này góp phần trả lời cho các câu hỏi thường xuất hiện trên chinhsach.vn: Quy trình chính sách là gì? Hoạch định chính sách là gì? Xây dựng chính sách là gì? Và tập trung vào nội dung Hoạch định chính sách giống và khác Xây dựng chính sách như thế nào?
Quy trình chính sách là gì?
Hãy bắt đầu với việc nhắc lại về quy trình chính sách công, hay chu trình chính sách công để dễ hình dung. Trên chinhsach.vn, tác giả thường sử dụng một chu trình chính sách như sau:
- Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting);
- Xây dựng chính sách (Policy Formulation);
- Thông qua chính sách (Policy Adoption);
- Thực thi chính sách (Policy Implementation);
- Đánh giá chính sách (Policy Evaluation).
Trong đó, Policy formulation có thể dịch là Xây dựng chính sách, hoặc (gọi là) Hình thành chính sách, hoặc (gọi là/tương đương/hay bao trùm) Thiết kế chính sách (Policy design).
Lưu ý là có một số nhà nghiên cứu cũng dịch/gọi “Policy formulation” là giai đoạn Hoạch định chính sách. Sở dĩ có rắc rối này không phải chỉ do chuyển ngữ sang tiếng Việt, mà bởi ngay cả các học giả/chuyên gia quốc tế khi viết về chính sách công và quy trình chính sách công cũng dùng không thống nhất, dễ gây khó hoặc nhầm lẫn cho người không nghiên cứu chuyên sâu về khoa học chính sách.
Phân biệt Hoạch định chính sách và Xây dựng chính sách
Nếu không đi vào định nghĩa, mà phân biệt ở ngữ cảnh sử dụng, thì ở Việt Nam hiện nay, qua sàng lọc một số bài viết nghiên cứu của nhiều chuyên gia, có thể tổng hợp lại những cách hiểu về Hoạch định chính sách và Xây dựng chính sách như sau (chinhsach.vn không nhận định đúng hay sai trong mỗi cách hiểu, chỉ tổng hợp để các bạn nắm bắt được và có thể chọn lựa ra cách hiểu/sử dụng phù hợp):
Cách hiểu thứ nhất: đồng nhất Hoạch định chính sách và Xây dựng chính sách, hai thuật ngữ này là tương đương, cùng để chỉ giai đoạn thứ hai trong quy trình chính sách. Nghĩa là Policy Formulation có thể gọi là Hoạch định chính sách, cũng có thể gọi là Xây dựng chính sách tuỳ theo người viết. Theo đó, khi đọc các nghiên cứu khác nhau về chính sách công, sử dụng hai thuật ngữ khác nhau, các bạn cần phải xem xét kỹ hơn nội dung có phải cùng nói về một giai đoạn trong chu trình chính sách không, để có thể phân biệt/hiểu đúng trên thực tế.
Cách hiểu thứ hai: Hoạch định chính sách được coi là giai đoạn đầu tiên trong quy trình chính sách/hoặc quy trình hoạch định chính sách; trong khi đó, Xây dựng chính sách là giai đoạn thứ hai. Điều này được lý giải là: hoạch định là quá trình xác định vấn đề, mục tiêu và đề ra các phương án/giải pháp thực hiện, và vẫn còn mang tính chiến lược, định hướng bước đầu. Sau quá trình hoạch định chính sách là đến quá trình Xây dựng chính sách mà ở đó tập trung vào việc soạn thảo nội dung chính sách (Policy drafting), mang tính kỹ thuật, cụ thể, chi tiết. Theo nghĩa này thì Xây dựng chính sách có thể hiểu là dự thảo nội dung, quy phạm hoá phương án chính sách được lựa chọn từ khi hoạch định chính sách. Và như thế thì Hoạch định chính sách tương đương với giai đoạn (1) lập Chương trình nghị sự trong quy trình chính sách. Hoạch định chính sách diễn ra trước. Xây dựng chính sách diễn ra sau.
Cách hiểu thứ ba: Policy Formulation là Xây dựng chính sách. Như vậy, Xây dựng chính sách là giai đoạn thứ hai của chu trình chính sách. Khái niệm Xây dựng chính sách cũng được sử dụng chính thức với nghĩa là một giai đoạn của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Trong đó có các bước phân tích vấn đề, lựa chọn mục tiêu, giải pháp tối ưu và xây dựng nội dung chính sách cụ thể…
Tuy nhiên, khác với cách hiểu thứ nhất là đồng nhất xây dựng chính sách với hoạch định chính sách, ở cách hiểu thứ ba này có sự phân biệt với hoạch định chính sách khá rõ. Theo đó, hoạch định chính sách được dùng theo nghĩa rộng hơn, có thể bao gồm cả lập kế hoạch và ra quyết định (Decision-making): đó là việc hoạch định chính sách có thể gộp chung cả giai đoạn (1) lập chương trình nghị sự và (2) xây dựng chính sách, hoặc thậm chí, bao gồm cả (3) thông qua chính sách (quyết định chính sách).
Như vậy, từ cách hiểu thứ ba này, có thể nhìn rộng hơn là, hoạch định chính sách không bị bó buộc vào một giai đoạn trong chu trình lý thuyết, mà lúc này mang nghĩa mô tả hoạt động làm chính sách (policy making), hoặc đồng nhất với cả quy trình chính sách (policy cycle hay policy-making process). Nếu theo dõi chinhsach.vn thường xuyên, các bạn sẽ thấy tác giả chinhsach.vn cũng hay sử dụng cách hiểu thứ ba này.
Trong thực hành chính sách ở Việt Nam, cũng không quá quan trọng việc phải phân biệt/sử dụng thuật ngữ hoạch định chính sách duy nhất cho một giai đoạn nào của quy trình chính sách. Thực tế, hoạch định chính sách vốn được hiểu rộng hơn, nghiêng về tính vĩ mô, chiến lược, bao gồm các quá trình lập kế hoạch, chương trình, phương án trước khi thông qua và có thể bao gồm luôn việc “ra quyết định” lựa chọn giải pháp và thông qua chính sách. Vì thế mà “nhà hoạch định chính sách” (Policy maker) thường dùng để chỉ những chính trị gia (như đại biểu Quốc hội), những người có thẩm quyền quyết định thông qua chính sách, pháp luật.
Nguyễn Anh Phương
Gợi ý trích dẫn:
Nguyễn Anh Phương 2026, Quy trình chính sách, Hoạch định chính sách và Xây dựng chính sách, https://chinhsach.vn/quy-trinh-chinh-sach/, truy cập ngày…




Leave a Reply